Hệ thống giáo dục Việt Nam

giao duc viet nam

Tính đến nay, Việt Nam vẫn được xem là quốc gia có tiềm năng phát triển so với các nước láng giềng. Hệ thống giáo dục Việt Nam do Bộ Giáo dục và Đào tạo sắp xếp và áp dụng trên toàn quốc. Theo thống kê của UNESCO, tính đến năm 2009, có hơn 90% dân số biết chữ. Tỷ lệ người biết chữ độ tuổi từ 15 – 60 là 97,65%, cơ bản đạt được mục tiêu của “Đề án xóa mù chữ” (đến năm 2020 đạt 98%). Để hiểu rõ hơn về nền giáo dục Việt Nam, chúng ta cùng tìm hiểu về hệ thống giáo dục Việt Nam ngày nay.

giao duc viet nam
giao duc viet nam

I. Giáo dục mầm non

  • Đối tượng: trẻ em từ 3 – 6 tuổi.
  • Mục tiêu:

          – Nuôi dưỡng tư duy và thói quen sinh hoạt của trẻ.

          – Giúp bố mẹ trông trẻ khi không có thời gian chăm sóc trẻ lúc đi làm.

II. Giáo dục cơ bản

Tổng cộng có 12 năm, chia làm 3 giai đoạn: cấp 1 bậc tiểu học, cấp 2 bậc trung học cơ sở và cấp 3 bậc trung học phổ thông. Bậc tiểu học và trung học tổng cộng gồm 9 năm và đây là bậc giáo dục bắt buộc.

1. Giáo dục tiểu học:

Bậc tiểu học dành cho học sinh ở độ tuổi từ 6 – 11 tuổi, học từ lớp 1 đến lớp 5, gồm 5 lớp. Đây là bậc giáo dục bắt buộc đối với mỗi công dân.

Các môn bắt buộc: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên xã hội (lớp 1, 2, 3), Khoa học, Lịch sử, Địa lý (lớp 4, 5), Âm nhạc, Mỹ thuật, Đạo đức, Thể dục, Tin học (tự chọn), Anh văn (lớp 3, 4, 5 tự chọn, có trường bắt đầu dạy từ lớp 1).

Trước đây sau khi hoàn thành bậc tiểu học, học sinh cần thi tốt nghiệp để chuyển cấp nhưng hiện nay đã không còn kỳ thi này.

2. Giáo dục trung học cơ sở:

Bậc trung học cơ sở  dành cho học sinh ở độ tuổi từ 11 – 15 tuổi, học từ lớp 6 – lớp 9, tổng cộng có 4 lớp.

Các môn bắt buộc: Toán, Vật lý, Hóa học (lớp 8, 9), Sinh học, Công nghệ, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nga, Trung, Nhật), Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học. Ngoài ra còn một số môn học như: Hoạt động ngoại khóa, Học nghề, Thơ ca học đường.

Ngày trước, học sinh cần phải trải qua kì thi tốt nghiệp trung học cơ sở mới đủ điều kiện tốt nghiệp. Bắt đầu từ năm 2006, kỳ thi tốt nghiệp này đã không còn nữa, thay vào đó sẽ lấy điểm 4 năm học làm điều kiện xét tốt nghiệp, những học sinh nào có nguyện vọng tiếp tục học lên cấp 3 sẽ tham gia vào kì thi tuyển chọn riêng.

3. Giáo dục trung học phổ thông:

Bậc trung học phổ thông dành cho học sinh ở độ tuổi  từ 15 – 18 tuổi, học từ lớp 10 – lớp 12.

Muốn vào học trường cấp 3 công lập học sinh nhất định sau khi hoàn thành chương trình cấp 2 phải tiếp tục tham gia và vượt qua được kì thi tuyển chọn riêng.

Để tốt nghiệp cấp 3, học sinh phải tham gia kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông tại Việt Nam của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.

III. Giáo dục chuyên biệt 

1. Trường trung học năng khiếu:

Đối tượng: những học sinh cấp 3 ưu tú.

2. Trường giáo dưỡng:

Đây là loại hình trường đặc biệt dành cho các thanh thiếu niên phạm tội. Trong trường, các học sinh này được học văn hoá, được dạy nghề, giáo dục đạo đức để có thể ra trường, về địa phương sau một vài năm. Các năm trước, các trường loại này do Bộ Công an Việt Nam quản lý, nhưng hiện tại do Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội quản lý.

3. Trung tâm giáo dục thường xuyên:

Nơi phổ cập giáo dục cho tất cả các lứa tuổi.

4. Trường Phổ thông dân tộc nội trú:

Đây là các trường nội trú đặc biệt, có thể là cấp II hoặc có thể là cấp III. Các trường này dành cho con em các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế – xã hội nhằm bồi dưỡng nguồn nhân lực, tạo nguồn cán bộ cho các địa phương này. Học sinh được ở tại trường và được cấp kinh phí ăn, ở.

5. Giáo dục sau phổ thông

  • Trung cấp, dạy nghề:

Cần tốt nghiệp cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông hay tương đương để có thể học nghề, trung cấp.

Đây là chương trình học dạy nghề dành cho người không đủ điều kiện vào đại học hoặc cao đẳng.

  • Dự bị đại học:

Các học sinh dân tộc ít người nếu không trúng tuyển vào đại học có thể theo học tại các trường dự bị đại học. Sau một năm học tập, các học sinh này có thể chọn một trong các trường đại học trong cả nước để theo học (trừ Trường Đại học Ngoại thương và các trường thuộc ngành quân sự).

  • Trung cấp, dạy nghề:

Đây là chương trình học dạy nghề dành cho người không đủ điều kiện vào đại học hoặc cao đẳng.

  • Cao đẳng:

Sinh viên phải tham gia kỳ thi tuyển sinh trực tiếp vào cao đẳng hoặc điểm thi vào đại học thấp hơn điểm quy định nhưng lại đủ để vào cao đẳng thì có thể đăng ký vào học cao đẳng.

Chương trình cao đẳng thông thường kéo dài 3 năm. Tuy nhiên, một số trường cao đẳng có thể kéo dài đến 3,5 năm hoặc 4 năm để phù hợp với chương trình học. Sau khi tốt nghiệp cao đẳng, một số trường có liên kết để sinh viên tiếp tục học lên Đại học.

  • Đại học :

Học sinh cấp 3 sau khi hoàn thành kì thi tốt nghiệp quốc gia tiếp tục tham gia vào kì thi tuyển sinh đại học mới có thể tiến vào học tại các trường đại học trong cả nước.

Chương trình đại học kéo dài từ 4 – 6 năm, 2 năm đầu là chương trình đại cương và 2 – 4 năm sau là chương trình chuyên ngành. Sau khi tốt nghiệp đại học sinh viên sẽ nhận được bằng chứng nhận và được gọi là cử nhân hoặc kiến trúc sư.

  • Giáo dục sau đại học

Thạc sĩ: Thời hạn đào tạo từ 1 – 2 năm

Tiến sĩ: Thời hạn đào tạo từ 1 – 4 năm

hotline dang ky anh van tu hoang dat

Trên đây là sơ lược về hệ thống giáo dục Việt Nam. Một trong những điểm khác biệt giữa nền giáo dục Việt Nam và nước ngoài có thể kể đến đó là lịch học và học phí.
a. Lịch học

Ở Việt Nam, một ngày học bắt đầu từ 7 giờ sáng đến 11 giờ sáng, từ 1 giờ chiều đến 4 giờ chiều hoặc 5 giờ chiều, từ thứ Hai đến thứ Sáu và sáng thứ Bảy đối với một số trường. Học sinh sẽ có 30 phút giải lao vào buổi sáng và buổi chiều. Một năm học thường bắt đầu vào tháng 9 và kết thúc vào tháng 5 năm sau. Trong năm học, học sinh sẽ được nghỉ lễ nhân dịp như Tết Âm lịch, lễ Quốc khánh, Quốc tế lao động, Giỗ tổ Hùng Vương, Ngày Nhà giáo Việt Nam, v.v.

b. Học phí:
  • Tại các trường công lập, học sinh tiểu học được miễn học phí. Điều này nhằm thúc đẩy các em đến trường học, góp phần xóa nạn mù chữ. Trong hệ thống giáo dục Việt Nam, bậc tiểu học là bắt buộc. Học sinh ở các cấp học khác (từ mầm non đến đại học) phải đóng học phí khoảng 100.000 đến 200.000 đồng/ tháng và nhiều hơn một chút cho các loại phí khác như  tiền ăn trưa, cơ sở vật chất, v.v.
  • Đối với trường tư thục, học phí thay đổi theo từng trường. Đối với giáo dục phổ thông, mức giá thấp nhất có thể là 1 triệu đồng/ tháng đối với học nửa buổi, 2 triệu đồng/ tháng đối với học bán trú và 3 triệu đồng/ tháng đối với học bán trú, trong khi giá cao nhất có thể lên đến 48 triệu đồng. Học sinh tại các trường tư thục, đặc biệt là các trường quốc tế, thường phải trả nhiều hơn học sinh các trường công lập. Thay vào đó, học sinh được cung cấp cơ sở vật chất hiện đại hơn và môi trường năng động hơn. Các con số trên chỉ mang tính chất tham khảo và thay đổi theo thời gian. So về mặt bằng chung thì học phí ở các trường tại Việt Nam vẫn thấp hơn rất nhiều so với các nước khác.

Tóm lại, giáo dục Việt Nam giữ vai trò quan trọng và là nền tảng mang lại thành công trong tương lai cho đất nước. Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, những người có trình độ học vấn cao rất được coi trọng ở Việt Nam. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã triển khai nhiều đổi mới nhằm cập nhật và nâng cao chất lượng giáo dục. Hệ thống giáo dục Việt Nam được kỳ vọng sẽ ngày càng phát triển hơn trong tương lai vì đây được coi là nền tảng của một quốc gia thịnh vượng. Cũng là một phần trong hệ thống giáo dục Việt Nam, trung tâm Tư Hoàng Đạt chúng tôi tự hào về đội ngũ giáo viên uy tín chất lượng, góp phần nâng cao học thức, cải thiện kết quả học tập của các em học sinh – thế hệ tương lai của đất nước. Trung tâm chúng tôi chuyên cung cấp giáo viên Việt Nam, giáo viên nước ngoài tận tâm và uy tín đến dạy tại gia. Hãy đến với Tư Hoàng Đạt và trải nghiệm.

TRUNG TÂM ANH VĂN TƯ HOÀNG ĐẠT

390/1A Cách Mạng Tháng 8, P.11, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh

Hotline: 0888999880

Zalo: 0902478186

Facebook: Anh Văn Tư Hoàng Đạt

Website: anhvantuhoangdat.com

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN CÁC KHÓA HỌC

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *